DU LỊCH VĂN HOÁ YÊN DŨNG - BẮC GIANG TIỀM NĂNG ĐANG ĐÓN ĐỢI

Du lịch văn hoá là một loại hình du lịch xuất hiện và phát triển từ khá sớm. Trên thế giới, loại hình du lịch này đã, đang và sẽ trở thành một xu thế phát triển mạnh trong tương lai, khi mà sự kết hợp văn hoá với du lịch đã đạt tới được chất lượng hiệu quả cao. Xu thế du lịch này đặc biệt thể hiện rõ ở những trung tâm kinh tế - văn hoá - du lịch, những vùng, những địa phương, nơi có nhiều di tích, danh thắng nổi tiếng, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể độc đáo, có những môi trường sinh thái khác biệt và bề dày về đặc trưng văn hoá truyền thống.

          Trong bối cảnh chung của du lịch quốc tế, khu vực và trong nước, chúng tôi xin phác thảo diện mạo du lịch văn hoá của huyện Yên Dũng- tỉnh Bắc Giang, về thực trạng, xu hướng phát triển để có giải pháp phát triển tiềm năng du lịch văn hoá địa phương, nhằm tăng vị thế của du lịch địa phương trong sự phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội ở Yên Dũng- Bắc Giang.

          1. Vài nét về thực trạng và xu hướng phát triển

          Yên Dũng là huỵên nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Giang, có 19 xã và 02 thị trấn, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất hàng năm đạt 17,63%; dịch vụ - thương mại đạt 17%/năm. Nơi đây được coi là vùng đất cổ của dân tộc, phía Nam giáp với tỉnh Bắc Ninh và được bao bọc bởi con sông Cầu, phía Đông giáp với tỉnh Hải Dương và được ngăn cách bởi dòng Lục Đầu giang, phía Bắc tiếp giáp với huyện Lục Nam, phía Tây tiếp giáp với thành phố Bắc Giang qua Quốc lộ 1A chạy Hà Nội - Lạng Sơn. Về mặt địa dư, vị trí này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch, giao lưu văn hoá trong và ngoài tỉnh, kể cả đối với du khách Quốc tế.

          Yên Dũng có hệ thống sông, suối và các con ngòi ôm quanh các dãy núi và các con đồi nhỏ lẻ tạo thế bao bọc thơ mộng trong cảnh thiên nhiên bao la hùng vĩ, thu hút sự quan tâm, tìm tòi, khám phá những giá trị văn hoá, lịch sử tiềm ẩn nơi đây của du khách. Những địa danh của vùng đất này ít nhiều đã trở nên quen thuộc và trở thành địa chỉ văn hoá đối với người dân ngoại tỉnh như: sông Thương, chùa Kem, chùa Vĩnh Nghiêm gắn với Thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ, đền Thanh Nhàn, cùng dãy núi Nham Biền; các địa danh gắn với các chiến công trong chống giặc ngoại xâm, thực dân, đế quốc như làng Ao Gạo, làng Bình Voi, làng chiến đấu Long Trì khói lửa…; những làng nghề như Gốm làng Ngòi, mộc Đông Loan…

          Là một huyện Trung du miền núi, kinh tế phát triển chưa cao, cơ sở vật chất cho xây dựng kinh tế xã hội và điều kiện đầu tư cho du lịch còn nhiều hạn chế, do vậy Yên Dũng đang gặp phải những khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch địa phương nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn, thách thức trên, du lịch văn hoá Yên Dũng cũng có được những thế mạnh riêng biệt, do đó, nếu khai thác hết tiềm năng của địa phương, tận dụng tốt tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng vốn có thì du lịch- văn hoá ở Yên Dũng sẽ có những bước đột phá mới đáng kể trong sự phát triển chung của diện mạo du lịch tỉnh Bắc Giang.

          Trong những năm gần đây, văn hoá du lịch Yên Dũng đã được nhiều người trong và ngoài tỉnh, thậm chí là du khách Quốc tế biết đến và quan tâm, đặc biệt là du lịch tâm linh với những ngôi chùa nổi tiếng và các di tích lịch sử, cách mạng đã được xếp hạng. Tính đến nay, toàn huyện có hơn 300 di tích lớn nhỏ, trong đó có trên 50 di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, 05 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia, 02 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và nhiều di tích đang đề nghị các cấp, các ngành quan tâm đầu tư và ghi nhận. Điều đó chứng tỏ nơi đây chứa đựng một số lượng trầm tích văn hoá không nhỏ. Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng du lịch văn hoá ở Yên Dũng là chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của huyện.

          2. Du lịch văn hoá vùng đất Yên Dũng

Nói đến văn hoá du lịch Yên Dũng trước hết phải kể đến ngôi chùa Vĩnh Nghiêm, đây là ngôi chùa nổi tiếng, được người dân cả nước biết đến bởi ngôi cổ tự này chứa trong đó những nét trầm tích văn hoá có giá trị lịch sử tâm linh lâu đời, cùng với đó là cơ tầng văn hoá vật thể, phi vật thể có giá trị vượt ngoài không gian quốc gia. Trước kia chùa thuộc xã Đức La (do vậy có tên gọi là chùa La hay chùa Đức La), tổng Trí Yên, trấn Kinh Bắc. Ngôi chùa nổi tiếng này có từ thời nhà Lý, phát triển mạnh kể từ thời nhà Trần (thế kỷ XIII), thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Diện tích khu nội tự là 1 vạn mét vuông. Địa danh toạ lạc nhìn ra ngã ba Phượng Nhỡn, là nơi hội tụ của dòng sông Thương và sông Lục Nam hợp thành hệ thống sông Thái Bình, đây là ngã ba nổi tiếng trong huyền thoại Việt. Trông ra xa trước mặt bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo. Lưng chùa được tựa vào núi Cô Tiên, bên tả có tay long là sông Lục Nam, bên hữu có tay hổ là sông Thương và dãy núi Nham Biền trùng điệp, vừa tạo cảnh thơ mộng hữu tình, vừa tạo thế vững trãi ngàn năm. Cảnh quan trông như một đóa sen hồng rực rỡ sắc màu, trái phải tiền ứng thực là kỳ diệu, thơ mộng, lại có đường giao thông thuỷ bộ thuận lợi cho khách du lịch viếng thăm.

Với vai trò là “Trung tâm đào tạo tăng đồ trong cả nước” cùng những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng và văn hoá ở nơi đây diễn ra từ xưa tới nay là sự biểu lộ lòng thành kính, biết ơn và sự tưởng niệm công đức của những người dân trong khu vực với các vị tam tổ. Họ đã cùng nhau xây dựng và gìn giữ ngôi chùa này để nó trở thành một danh lam, một trung tâm phật giáo nổi tiếng trong cả nước. Ba vị tam tổ thờ tại chùa Vĩnh Nghiêm là: Trần Nhân Tông (1279- 1308), Đồng Kiên Cương Pháp Loa (1284- 1330) và Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254- 1334), đây là những nhà chân tu có công khai sáng dòng Thiền phái Trúc Lâm. Thời đó, Trúc Lâm đã góp phần vào việc củng cố triều đại và chế độ bằng những công tác hành đạo tích cực trong dân gian. Tháng 9 năm Quý Sửu (1313), sư Pháp Loa phụng chiếu đến cư trú tại chùa Vĩnh Nghiêm, đặt Văn phòng Trung ương của Hội ở đó, quy định mọi chức vụ của tăng sĩ trong giáo hội, kiểm tra tự viện và làm sổ tăng tịch. Từ đó Vĩnh Nghiêm tự trở thành chốn tổ, có vai trò rất lớn trong thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Chùa Vĩnh Nghiêm đã trở thành di sản văn hoá tiêu biểu của dân tộc Việt Nam: Ai qua Yên Tử Quỳnh Lâm/ Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành.

Hàng năm, vào dịp 14 tháng 2 âm lịch, chùa tổ chức lễ hội rất lớn, nổi tiếng trong cả vùng. Hội mở trong 3 ngày có cả phần lễ và phần hội với các trò dân gian có tính chất văn hoá, tâm linh thu hút hàng chục nghìn lượt khách thập phương từ các nơi kéo về dự hội, cầu mong mọi sự tốt lành và cùng thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình nơi đây đương độ xuân về. Không gian Chùa luôn làm cho du khách cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng giữa cảnh thiền thanh tao, u tịch. Với hệ thống giá trị lớn về mặt lịch sử (hơn 700 năm), giá trị về mặt tâm linh, giáo dục và các trầm tích văn hoá đang được quan tâm khai thác như vậy, hàng năm chùa Vĩnh Nghiêm đã được đón hàng chục nghìn du khách trong và ngoài nước về tham quan, nghiên cứu. Với những giá trị to lớn đó, năm 2012 Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận bộ “Mộc bản thư khố” Vĩnh Nghiêm tự là di sản tư liệu thế giới Châu Á Thái Bình Dương. Năm 2013 lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm được Bộ văn hóa –Thể thao và Dư lịch được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Qốc gia, Năm 2015 được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt.

          Nằm trong quần thể du lịch văn hoá Yên Dũng còn có các điểm đến để du khách thăm quan như: đền Thanh Nhàn, chùa Kem, đền thờ Thánh Thiên công chúa, Đền thờ Yết Kiêu, hang đá An Thái, đình Toản Thanh (được coi là Tứ chiếng quần cư của xứ Kinh Bắc xưa),…

          Đền Thanh Nhàn toạ lạc tại thôn Minh Phượng, xá Nham Sơn. Trải qua các triều đại phong kiến, nhiều lần tôn tạo nên dấu tích ngôi đền có sự pha tạp phong cách kiến trúc của các triều đại. Những ngày tháng chiến tranh, đền bị tàn phá nặng nề, nay công trình kiến trúc và cảnh quan đã được nhân dân trong vùng tu bổ lại, vẫn bảo lưu được một số cổ vật quý như lò thiêu hương bằng gang được đúc năm đầu niên hiệu Thành Hoá (1465), cây hương đá, cột đá khắc câu đối mang tính tuyên ngôn về địa lý: “Tây Bắc Yên Hồng tú lĩnh triều tiền/ Đông Nam Đương Mại thâm khê chiếu hậu”, “Tả Nham Biền sơn tú khí địa lý sơn chung/ Hữu Nguyệt Đức giang thánh thiên thiên thư  tố định”.

          Bên cạnh đền Thanh Nhàn là một di tích nổi tiếng: chùa Kem- hay còn gọi là Sùng Nham tự xây dựng từ thế kỷ XV, làm theo lối chữ Đinh, toạ lạc ở chân dãy Nham Biền. Chùa được xây trên địa thế sâu kín của một hẻm núi hình cánh cung hướng ra sông Như Nguyệt, tựa lưng vào vách núi Cột Cờ, đồi Đẩu Sơn, trên đỉnh có tháp Thạch Phong chứa xá lị của thiền sư Giác Hải xây dựng từ thế kỷ XVII. Không gian xung quanh ôm lấy ngôi chùa cổ tạo thế vững trãi ngàn năm. Nơi đây phong cảnh hữu tình, quanh năm không khí mát mẻ, cây cối bao bọc tạo vẻ u tịch, hoa nở bốn mùa, phía tả bên chùa có Hồ Chuông rộng lớn, bên hữu có Bãi Trống, cạnh chùa là Suối Tiên, đường lối quanh co, lau lách um tùm, phía sâu bên trong có Suối Nứa, lại có Giếng Tiên, Ngòi Tiên, Ao Tiên quanh năm nước đầy, chảy róc rách tạo khúc nhạc du dương lồng trong hoa lá cỏ cây, trông xa tựa như một bức tranh cổ, ẩn hiện cảnh sắc hư không. Phía trước chùa là vườn tháp chứa xá lị của các thế hệ tăng ni trụ trì bản tự. Cuối bãi tháp có Đường Mõ trông giống như chiếc mõ của nhà chùa. Phía trước Chùa Kem có đường 398 nối Bắc Giang với Hải Dương, Bắc Giang với Bắc Ninh, bên cạnh có đường tỉnh 299 liền kề kết nối từ đường cao tốc Hà Nội- Lạng Sơn về chùa Kem- đền Thanh Nhàn- đình Ba Tổng- đền thờ vua Trần Nhân Tông- Chùa Vĩnh Nghiêm…. Hội chùa Kem được mở vào vào ngày 21 tháng Tám theo lịch trăng, trùng dịp hội đền Kiếp Bạc (Chí Linh- Hải Dương), tiện đường giao thông thuỷ bộ, thuyền xe, nên du khách viếng thăm rất đông. Thời gian du khách lưu lại chắc hẳn sẽ rất bổ ích và tâm trí hẳn sẽ không hề bị nhàm chán.

          Nằm trong trục du lịch văn hoá tâm linh Yên Dũng còn phải kể đến Đình Cáu (Ba vua đình Cáu, sáu vua đình Kem), chùa An Quốc, đền Ngọc Lâm, chùa Hoàng Khánh 99 bậc, chùa Hang Chàm (tên chữ là Nham Nguyệt tự)… đều tựa lưng vào dãy Nham Biền. Có thể nói đình, đền và chùa nào ở Yên Dũng cũng gắn với các truyền thuyết, truyền tích văn hoá để người đời sau sưu tầm, nghiên cứu và biên khảo.

          Du khách đến Yên Dũng không khỏi tò mò tìm hiểu về dãy núi có tên Phượng Hoàng, hay còn gọi là dãy Nham Biền sơn, tên nôm là núi Neo. Dãy núi có tất cả chín mươi chín ngọn lớn, nhỏ hợp thành đan xen vào nhau. (Tương truyền, xưa có 100 con chim Phượng Hoàng đi chọn đất đế đô, đến vùng Yên Dũng, thấy phong cảnh và địa thế đẹp đẽ, đàn chim liền xà xuống chọn nơi đây, 99 con đã chọn được chín mươi chín ngọn núi để đậu, nhưng một con thiếu chỗ đậu bay lượn vòng rồi bay đi, cả đàn thấy vậy liền bay theo, đất Neo không trở thành đế đô được). Du khách tới thăm quan sau khi viếng thăm các ngôi chùa cổ kính là hành trình leo núi thăm các con suối, hồ lớn nhỏ, một cảm giác luôn xâm chiếm du khách là những cơn gió mát lạnh từ trong các khe núi mang theo hơi nước từ những con suối trên sườn núi, những dòng thác thổi vào. Phóng tầm mắt ra xa là cả một màu xanh rộng khắp của những cánh rừng tái sinh và những cánh đồng lúa bát ngát rộng mỏi cánh cò. Nằm trong quần thể dãy núi Nham Biền có nhiều ngọn núi với các tên gọi mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau, như: núi Hòn Giữa, núi Cột cờ, núi Ông Đống, núi Trói Trâu, núi Đèo Kim, núi Ổ Gà, núi Con Voi,… đặc biệt là núi Non Vua (cao hơn 300 m). Mỗi cái tên đều mang một huyền tích văn hoá, văn học dân gian với những nội dung phong phú, hấp dẫn. Một trong những ngọn núi có cảnh đẹp nên thơ, phải kể đến núi Một Trong. Núi được hình thành bởi những phiến đá tảng do tạo hoá sếp chồng khít lên nhau, trông giống như một thạch bàn khổng lồ.

Một điểm không thể không nhắc đến trong hành trình du lịch văn hóa tâm linh ở Yên Dũng là Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng.

Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng được xây dựng từ chân núi lên đến lưng chừng của ngọn núi Non Vua, đây là đỉnh cao nhất, đồ sộ, hành tráng nhất trong dãy núi Nham Biền. Nơi đây cây cối quanh năm tươi tốt, khí lành tụ hội; phía trước là làng mạc cổ trù phú, cánh đồng phì nhiêu rộng lớn và dòng sông Cầu uốn lượn. Vị trí xây dựng thuộc thôn Minh Phượng, xã Nham Sơn cách trung tâm huyện khoảng trên 2 km và cách trung tâm tỉnh Bắc Giang khoảng 10 km; với tổng diện tích quy hoạch xây dựng là 37 ha bao gồm nhiều hạng mục công trình chính như: Cổng tam quan; lầu chuông, lầu trống; Tòa điện chính; nhà thờ, nhà khách; nhà trưng bày; thiền đường, các công trình phụ trợ khác… được thiết kế tổng thể hài hòa với kiến trúc đẹp, uy nghi, đảm bảo cảnh quan môi trường và đặt biệt là đã gắn kết được tính tôn nghiêm, bản sắc văn hóa, hồn thiêng của sông núi nơi đây. Quy hoạch tổng thể Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng rất chú trọng tới các điểm nhấn về không gian, vị trí xây dựng các hạng mục; hình thức kiến trúc Phật giáo theo truyền thống, hài hòa với cảnh quan và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội.

Đây là quần thể các công trình văn hóa tâm linh lớn, việc xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng do Đại đức Thích Kiến Nguyệt làm chủ đầu tư kết hợp cùng các doanh nghiệp, Phật tử và nhân dân địa phương tổ chức thi công thông qua phương thức xã hội hóa. Đến nay, hầu hết các hạng mục công trình xây dựng của Thiền viện đã được các tập thể, cá nhân trong cả nước đã phát tâm ủng hộ về kinh phí và vật chất; nhiều hạng mục công trình đã được triển khai thi công và có khối lượng lớn, đảm bảo tiến độ đề ra. Hoàn thành đường lên chính điện, lầu chuông, lầu trống, đúc chuông. Hiện đang thi công công trình nhà chính điện và nhà tổ phấn đấu hoàn thành từ nay đến cuối năm 2016. Mặc dù các công trình còn đang thi công và nhiều hạng mục chưa được xây dựng nhưng Thiền Viện Trúc Lâm phượng Hoàng hàng năm đã đón được hàng chục nghìn lượt du khách đến tham quan, chiêm bái.

Việc xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng sẽ tạo thêm cảnh quan du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh tín ngưỡng của nhân dân, lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa đạo đức của tiền nhân, nhất là tiếp nối tư tưởng của dòng thiền Trúc Lâm. Đồng thời “nối liền” du khách bốn phương với một hệ thống các điểm du lịch văn hóa tâm linh lớn trong vùng như Đền Kiếp Bạc, chùa Vĩnh Nghiêm và non thiêng Yên Tử… điều đó sẽ góp phần quan trọng để thúc đẩy, phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa và xã hội của Yên Dũng nói riêng, của tỉnh Bắc Giang nói chung.

Hiện nay huyện Yên Dũng đã có kế hoạch dựng tượng ba vị Tam tổ của thiền phái Trúc Lâm trên dãy núi này và quy hoạch thành một khu du lịch sinh thái - tâm linh với quy mô rộng lớn. Kế hoạch hoàn thành thì đây sẽ là một không gian văn hoá lý tưởng cho du khách thập phương.

Ở Yên Dũng có nhiều di tích lịch sử, cách mạng, văn hoá kết cấu thành những cụm di tích - danh thắng, cụm di tích - lễ hội khá phong phú và độc đáo. Những cụm di tích này ẩn chứa nhiều tiềm năng du lịch văn hoá đã và đang được khai thác. Ngoài ra vùng đất Yên Dũng còn tồn tại nhiều loại hình văn hoá phi vật thể như: hát Chèo cổ truyền thống (08 làng), hát ca trù, hát ống, hát trống quân, hát Quan họ và những câu chuyện kể dân gian cười ra nước mắt từ các làng cười truyền thống mang đậm dấu ấn văn hoá Kinh Bắc… Các loại hình văn hoá dân gian truyền thống này ngày càng được khôi phục nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân và đáp ứng nhu cầu phục vụ nghỉ ngơi, thư giãn cho khách tham quan du lịch.

Với đầy đủ các điều kiện về tự nhiên, cùng các sản phẩm đặc sắc của địa phương, tiềm năng du lịch Yên Dũng đang đón đợi sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành, và chắc hẳn trong tương lai không xa, Yên Dũng sẽ là một điểm nhấn mang bản sắc riêng và sẽ trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn, hấp dẫn đối với khách du lịch của tỉnh Bắc Giang.

          Tiềm năng du lịch và văn hoá Yên Dũng - Bắc Giang đang hứa hẹn một nội lực mạnh khi có những phương thức khai thác đúng cách. Trong thời gian tới, sau khi đã có một chương trình quy hoạch tổng thể nhằm nâng cao chất lượng văn hoá và phát triển du lịch huyện Yên Dũng giai đoạn 2011- 2015 đáp ứng được nhu cầu phát triển địa phương lẫn nhu cầu khách du lịch, chắc chắn Yên Dũng sẽ biến tiềm năng thành hiện thực phát triển bền vững, không chỉ ngành du lịch mà còn cả nền kinh tế - xã hội địa phương trong quá trình hội nhập. Đó cũng là một nhiệm vụ góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015- 2020 đề ra./.

                                                                                      Trần Đức - Hạnh Liên